![]() ![]() |
||||||||
| Hộp Thư: duyviet.dantri@gmail.com Vận Động DÂN TRÍ - Khai Triển Ý THỨC GIÁ TRỊ TỰ THÂN - Xây Dựng DÂN CHỦ | ||||||||
| CHỦ TRƯƠNG | Minh Triết NCĐ | Đế Đạo | Xuân Tuấn | Đông Sơn | Con Nước Việt | |||
| ĐỘC GIẢ | Tài Liệu tham khảo | Cờ Quạt Giẻ Rách | TácPhẩm DuyênAnh | Phan Chu Trinh- Phan Bội Châu | TIN TỨC | Tội ác Chiến Tranh | Tư Tưởng | |
論語 Luận Ngữ
Vài lời
nhận định trưóc khi vào đề: Nho Giáo
“Dư
dục vô ngôn”, Có những điều chẳng muốn nói
làm gì. Nó đã như hai bàn tay xòe ra. Sở dĩ chúng tôi phải có lời bàn
mở đầu ở đây, vì lẽ đã có quá nhiều
ngộ nhận và thậm chí vu cáo tai hại, không phải
cho cá nhân Khổng Tử và những giáo thuyết của
ông, mà tai hại cho sự hiểu biết của nhiều
người, đặc biệt là thế hệ thanh niên
Tây học. Tức là tai hại đến dân trí, nên buộc
chúng tôi phải “phù thế giáo” vài lời “thanh nghị.”
Trải
qua bao thế kỷ, nhiều ngưòi đã nhập nhằng
giữa từ ngữ Nho Giáo và Khổng Giáo một cách hồ
đồ, mà trong đó có những triều đại chính
trị, tân lẫn cổ, mượn tên tuổi của Ông
để biện minh cho hành xử độc đoán chuyên
chế của họ; và ngược lại nhiều chế
độ và các phe phái cũng ghìm tên tuổi học thuyết
của Ông để quy lỗi cho những băng hoại
của đối thủ chính trị hoặc sự bất
lực yếu kém của chính dân tộc họ, như
trường hợp Trung Quốc và Việt Nam trong thời
cận đại hôm nay. Cho nên chúng tôi thấy cần thiết
phải có lời minh xác theo hiểu biết nghiên cứu của
chúng tôi trong việc làm sáng tỏ SỰ KIỆN một cách
có sở cứ khoa học, chứ không nhằm mục tiêu
bênh vực cho Ông Khổng hay “Khổng Giáo” của ông.
Ông Khổng
đúng hay sai, tốt hay xấu, tự thân Ông Khổng
đã xác định giá trị của ông mấy ngàn
năm, mà chẳng cần chúng tôi hay bất cứ ai thêm hay
bớt được. Nhân loại
nói chung và các dân tộc, hay thậm chí từng cá nhân những
ngưòi tôn trọng Ông, dựa vào lời giảng giải
của Ông để làm căn bản hành xử, nói riêng,
khi tự xét lại những ấn dấu tư tưởng
của Ông Khổng trong cuộc đời và nhân hạnh của
mình, ắt tự thể nghiệm để tự đánh
giá.
Nho Giáo hay Khổng Giáo?
Thật
ra Khổng Giáo tức là Nho giáo “kiện toàn” theo “ý nguyện”
của Khổng Tử, sau khi Ông Khổng “thuật lại”
những gì ông cho là Chính và Thiện của “Nho ngưòi
xưa”, mà đến thời của Ông đã bị hiểu
và hành xử sai lạc. Chính
Ông Khổng đã khẳng định “Thuật Nhi Bất
Tác” (Chỉ thuật lại chứ không lập ra). Và cũng
đã than là “Khổng giáo” của Ông không được chấp
nhận thực hiện ("Đạo bất hành. Thừa phù phù vu
hải," -đạo ta chẳng ai thì hành, hay là bỏ
đi lênh đênh trên biển còn hơn,5:7) Vì thế, khi nói đến Nho giáo một
cách tổng quát, chúng ta nên minh định sự khác biệt
giữa thời kỳ Nho giáo
phong kiến với những khẳng định hành xử
của nó đã trở thành quan niệm văn hóa của
ngưòi Trung Hoa cổ đại, khác với những gì mà
Khổng tử đã điều chỉnh, lập luận
xếp đặt lại theo cách thế và mục tiêu nhân bản,
phục vụ hạnh phúc con ngưòi theo nhận định
của Ông, trong bối cảnh cấu trúc quyền lực
quân quyền thời đại lúc đó. Tất cả những
điều được giảng giải từ Ông, ta có
thể tạm gọi là Khổng Giáo.
Trong huyền
sử của Trung Quốc, thời khai thiên lập quốc,
đất nước không là của riêng “giòng tộc Thiên
Tử”, mà thiên hạ đất nưóc là của chung, của
công, của mọi ngưòi “"Thiên hạ vi
công" (天下為公)”. Ngưòi làm vua là kẻ
có đức độ tài ba, tự mang trách nhiệm cần
kiệm thân dân để thực hiện, hướng dẫn
ngưòi dân trên con đường xây dựng an bình hạnh
phúc theo nguyện vọng cộng đồng xã hội. Do
đó Vua Nghiêu nhưòng ngôi cho vua Thuấn vì ông Thuấn có
tài đức, được dân kính phục và yêu mến.
Sau đó Vua Thuấn nhưòng ngôi cho vua Hạ Vũ, cũng
trong tiêu chuẩn và nguyên tắc này.
Ông Cổn,
thân sinh của ông Vũ, được Vua Nghiêu sai đi trị
thuỷ nhưng không thành công nên bị Vua Thuấn, người
kế tục Vua Nghiêu, phạt tội chết. Ông Vũ tiếp
nối công việc của cha, Ông Vũ đã đào chín sông
mới mất mười ba năm để hoàn tất
nhiệm vụ. Ngoải công trạng này, Ông Vũ là người
nổi tiếng về đức độ hành xử và
làm việc. Trong thời gian
làm việc, ông đã ba lần đi qua nhà mà không trở vào
thăm; có nghĩa là ông chăm chú việc công, tinh thần
trách nhiệm rất quan trọng, tách biệt việc gia
đình. Vua Thuấn rất tâm đắc trước công trạng và đức độ
của ông Vũ, cho nên đã đưa ông lên ngôi Vua kế
vị mà không chọn con trai mình. (Luận Ngữ)
Trước
thời vua Vũ nhà Hạ, danh hiệu hoàng đế
được truyền kế tiếp cho người nào
được nhân dân xã hội coi là có tài ba đạo
đức cao nhất, chứ không phải là truyền theo
giòng họ (Cha truyền con nối).
Tuy nhiên
tinh thần Thiên Hạ Vi Công và nguyên tắc "ngưòi tài
đức được xã hội công nhận" này bị
phá bỏ từ khi con trai vua Vũ,
là ông Khải, cố
gắng chứng
minh khả năng của mình để trở thành người
thừa kế ngôi vua của cha. Từ đây đánh dấu
sự khởi đầu của phong kiến tập thị
quyền (quyền theo giòng họ) và lập ra nhà Hạ, triều đại đầu
tiên của phong kiến theo nguyên tắc giòng họ thừa
kế của Trung Quốc.
Và
cũng kể từ đây, “Nho giáo”, một cách “nguyên thủy”, do những kẻ “Nho” (儒):
1.
Thuật sĩ ngày
xưa, chỉ chung những người có kỹ năng hoặc
kiến thức đặc thù.
2.
Học giả, người có học
thức. Như: thạc học thông nho碩學通儒 người học giỏi
hơn người.
3.
Văn vẻ, nề nếp.
Như: nho phong儒風, nho nhã儒雅.
...
khai triển ý niệm tương giao xã hội quân quyền
của phong kiến thời cổ, bao gồm những nghi
thức thang trật xã hội, và phân định giai cấp;
mà chủ yếu đặt quốc gia , ngưòi dân v,v tất
cả vào làm tài sản của kẻ cầm quyền. Những
thang trật như Quân ,Sư, Phụ, được xếp
đặt để duy trì sự
tập trung quyền lực, giới hạn sự san xẻ
quyền lợi công cộng. Và những ý niệm về
lòng Trung, Hiếu cưỡng
chế như “quân xử thần bất tử bất
trung, Phụ xử tử vong tử bất vong bất hiếu”
được xiển dương và nhồi nhét vào hệ
thống giáo dục chính quy.
Cho đến khi Khổng Tử xuất
hiện. Ông nhìn lại những nét đẹp của sự
tương giao chính đáng, tính “dân chủ cộng đồng” của thời Nghiêu
Thuấn Vũ, vị trí trách nhiệm cũng như những
đức tính căn bản của cương vị ông
Vua thật sự, khi tương phản lại hiện trạng
của thời ông, một hoàn cảnh quan quân quí tộc
cùng triều đình nhũng lạm chia đẳng trật
kế thừa, gây khốn khổ chiến tranh cho quần
chúng . Thiên Hạ không còn “vi công” nữa , mà thuộc về
“Thiên tử” và giòng họ thiên tử. Tài sản đất
đai thuộc về các ông vua, quí tộc chia nhau. Từ
đó Ông chủ trương tái lập cái đẹp của
Nghiêu Thuấn bằng cách diễn đạt lại và khai
triển lại ý niệm Chính Danh về Quân, Sư, Phụ
- (Thuật Nhi Bất Tác).. và từ đây “Khổng Giáo” mới
ra đời, nếu đúng theo cách gọi của cả
khoa bảng và thế tục xưa nay, là khép cái tên của
Ông vào những lời giảng giải của Ông.
Cho
nên khi đã gọi là “Khổng giáo” thì chỉ nên “ghép” những
gì ông Khổng giảng giài và hành xử như trong Luận
Ngữ chứ không thể “ghép” những quan niệm hành xử
thế tục và của cung đình trong văn hoá của
Trung Quốc nói chung vào Khổng Giáo được. Văn
hóa Trung Hoa bao gồm cả một chiều dài từ
thượng cổ đến hiện đại, mà “Khổng
Giáo” chỉ có từ khi ông Khổng mở trường dạy
học và chân truyền qua một số học trò của
Ông. Cho nên, nếu cẩn trọng và có trách nhiệm với
sự hiểu biết thì chúng ta nên gọi những ai hành xử
theo lời giảng giải của Khổng Tử là phái Khổng
Nho (孔儒) mới đúng. Vì ông, giống
như chúa Giê Su (Christ) của Do Thái, đã cố gắng sửa
đổi, điều chỉnh những quan niệm sai
trái của Do Thái giáo, của “cựu ước” thành nhân bản
và chan hòa hơn. Và ngưòi ta gọi những ai hành xử
theo lời giảng của Ông là Ky Tô Hữu (Christian) để
phân biệt những ngưòi vẫn tin vào Chúa Trời
(Jehova) nhưng không theo giảng giải của Giê Su, mà giữ
y theo lý lẽ cũ..dù cùng một gốc.
Và
sau này, còn những “Nho” khác như Hán Nho, Minh Nho, Tống Nho,
Thanh Nho v.v Rồi ở Việt Nam còn có “Việt Nho” rồi
Hàn Nho, Nhật Nho...mà những hành xử quan niệm chính
sách của họ hầu như chẳng ăn nhập gần
cận gì đến những lời Khổng Tử giảng giải
đề nghị, ngoại trừ cái tên chữ “Nho” và cái
“họ Khổng” ngưòi ta “cưỡng thuê” của Ông. Cũng
cùng thân phận như vậy, đức Giê Su cũng bị
nhiều giáo phái, nhiều quốc gia mượn cái danh vị
Cứu Thế (Christ) để thi hành những chính sách mà
chẳng có gì thể hiện, hay thậm chí gần cận
với hình ảnh Con Ngưòi Samaritan mà Ông đã dụ ngôn,
để đề nghi cùng mọi người về Nhân
Đạo (đạo làm người), hay tinh thần “đưa má bên kia” với kẻ
lấn hiếp mình.. Cũng chỉ ngoại trừ cái tên
và bức hình Ông chịu khổ nạn nơi thập tự
giá. Và Phật cũng không thoát được nghiệp nạn
này nơi những tập đoàn tăng lữ, thiền viện,
tu viện , chùa chiền v.v ngoại trừ bức tượng
của ông và cái họ “Thích” (siddhārtha).
Chúng
ta nếu diễn lý sẽ thấy Khổng tử đã
tuyên bố “khiêm nhượng”, muợn “Nghiêu Thuấn” và
Đại hiền triết xưa để an tâm những
kẻ quyền lực cùng thời trong nỗ lực hóa giải
những lo sợ mất
đi những đặc quyền của họ, rồi
sinh đố kỵ dị ứng với “tư tưởng
mới” khác biệt đến “đối nghịch” hẳn
với giá trị hiện tại thời Ông mà nói rằng “Ta chỉ thuật lại những gì
ngưòi xưa (Nghiêu Thuấn) chứ không phải ta nghĩ
ra “Thuật nhi bất tác”.
Và Chúa Giê Su cũng phải muợn danh Luật và Tiên Tri mà tuyên bố tương tự như vậy “Ta đến để làm cho trọn
vẹn Luật và Tiên Tri chứ
không phải để phá bỏ” (Do not think that I came to abolish
the Law or the Prophets; I did not come to abolish but to fulfill.-Matthew
5:17) khi phải giảng giải những ý niệm và giá trị
“mới, khác biệt và đối nghịch” với trật
tự hiện đại của thời mình, những “ý niệm
mới” chắc chắn sẽ
gọt tỉa những đặc quyền đặc lợi
của giới thượng lưu quyền lực đạo
đức giả (pharisiêu).
Cho
đến nay, nếu chúng ta không GÁN GHÉP những băng hoại
của ngưòi Tây phương của Giáo Hội La Mã, của
những kỷ nguyên Trung Cổ, những lạc hậu của
các xã hội theo Thiên Chúa giáo chuyên chế cổ thời,
vào với lời giảng của
Chúa GiêSu, thì chúng ta cũng nên sòng phẳng mà tách biệt
Đức Khổng Tử và những lời giảng giải
của Ông ra khỏi những băng hoại hủ tục
và thời kỷ nhập chính của Nho Giáo. Chúng ta cũng
nên tách biệt những giảng giải luận thuyết của
Đức Phật ra khỏi những băng hoại của
các tăng lữ trong quá khứ cũng như ở hiện
tại.
Chúng
ta hôm nay xét định giá trị của đức Ky Tô qua
lời giảng giải và hành trạng của Ông, và những
gì còn tiếp tục ảnh huởng trong đời sống
hàng ngày của chúng ta, từ những lời nói đó,
như những khuôn thưóc vàng ngọc , thì chúng ta cũng
xét định tư tưởng Phật và Khổng Tử
qua những gì các ông nói và làm và ảnh huởng trong cuộc
đời của mỗi chúng ta .
Tất
cả còn lại, chúng tôi xin
để lại cho quí độc giả tham khảo trực
tiếp và tự có những nhận định riêng. Những
ảnh hưỏng trực tiếp từ CHÍNH NHỮNG LỜI
GIẢNG GIẢI của những vị này ngay trong tâm thức
của chúng ta. Những gì tốt đẹp của ngày hôm
nay mà loài ngưòi thụ hưởng từ những lời
giảng giải của Các Vị Đại Hiền Triết
này, còn đó, trưóc mắt chúng ta và ngay trong đời sống
chúng ta. Hãy tự hỏi, chúng
ta đã sống được bao nhiêu phần của những
giảng giải đề nghị này, trưóc khi chúng ta
lên án và “khép tội” họ vì những bất lực hèn kém
của chính mình. Đó là thưóc đo chân chính nhất.
Nếu
biết đọc, biết nghĩ, thì Khổng Nho và Khổng
Tử nên được nhìn một cách lương thiện
và đúng đắn.
Trân trọng thân kính
Thay mặt Duy Việt,
Nguyên Khả
Phạm Thanh Chương
04-2008
Vài lời giới
thiệu, trao đổi vói những độc giả mới
bước vào tìm hiểu Khổng giáo qua Luận Ngữ
Như triết gia
Kim Định đã có nhắc nhở về "ba cấp
khó khăn" trong bài giảng của ông về Nho giáo, những
căn bản cần thiết để ngưòi tìm hiểu
chuẩn bị. Chúng tôi không lập lại những nhắc
nhở này. Trong mục tiêu giới thiệu Khổng
giáo, đặc biệt là qua sách Luận ngữ, chúng tôi thấy
phải nêu lên những điểm cần thiết để
độc giả lưu tâm.
1-
1- Luận Ngữ, như cái tên của nó
đã xác định, chỉ là ghi chú lại những lời
trao đổi, hành trạng của Khổng tử và các môn
đệ, không phải là "sách" do Khổng Tử viết
ra để hệ thống hóa tư tưởng của
mình như các triết gia khác. Sách chắc hẳn phải do
một số đệ tử trân quí Thầy mình, trân trọng
những gì Thầy và các bạn hữu sinh hoạt, nên mới
ghi tỉ mỉ như vậy.
2-
2-Do điều kiện ngày xưa, ngưòi
nói thì "kiệm ngữ khiêm ngôn", rồi lại
được ghi chép , in lại trong điều kiện kỹ
thuật viết, in qua việc đục khắc chữ
NHO rất nhiêu khê, cho nên tất cả đưa đến
việc ngắn gọn xúc tích. Người đọc cần
hội ý và suy nghĩ.
3-
3-Phương pháp giáo dục và mục
đích của Khổng tử là tùy tâm tính, điều kiện
của từng học trò mà dẫn giải. Cho nên chúng ta thấy
chỉ một chữ HIẾU(孝)
(Vi Chính: tiết 5.6.7.8) hay NHÂN (仁), (Ung dã: tiết
20,24,28) tùy vào hoàn cảnh, thiếu khuyết,
sai phạm và cá tính của mỗi học trò, Khổng tử
diễn ý khác nhau. Mục tiêu là cải sửa và
trau dồi cho chính ngưòi học trò đó; cũng như Lễ, Nghĩa, Dũng
v.v mà ngay cả ý niệm
"vi chính"(為政) (làm chính sự Vi chính: tiết 1,19,20,21- Nghiêu viết:
tiết 2 v.v) cũng thế. Nói như vậy để thấy Khổng
tử diễn giải không hề chủ trương tính cách bao quát, mà đi từ những khía cạnh biểu hiện của ý niệm mà ngưòi đọc (hay môn đệ của ông KT) phải suy nghĩ thông suốt
để tự tổng hợp.
Cũng vì nhu vậy, Các học giả đời
sau đều đồng thuận công nhận Luận Ngữ
là quyển sách được xem là chân chính nhất của
Khổng Nho. Trong Luận Ngữ người đọc sẽ
nhìn và thấy được không chỉ tư tưởng,
con người của Khổng Tử mà là cả một hoạt
cảnh thời đại cổ xưa, đặc biệt
nhất là cảnh sinh hoạt của ngôi trường
tư thục Khổng Nho. Ngôi trường đầu tiên
này không chỉ vang lên những câu nghị luận trao đổi
rất thân ái chan hòa của thầy trò ông Khổng, mà còn
văng vẳng tiếng đàn lời hát vang xa. Độc giả nếu đọc
bằng cả tâm trí hài hòa, sẽ thấy một ông Khổng
vói đầy đủ nét nghiêm trang cần thiết,
nhưng dí dỏm, xâu sắc, nhưng lại ôn hòa , bình dị,
rất khả ái. Đọc kỹ hơn sẽ thấy
được những tình cảm thân kính, ưu ái mà các học
trò, dù xấp xỉ tuổi của thầy, (như Tử
Lộ , và cả hai cha con
Tăng Tích, Tăng Sâm đều
là môn đệ của Khổng tử) dành cho ông Khổng. Những tình cảm
thân kính ưu ái dành cho một người Thầy, mà nếu
người Thầy không có lòng chân Tín, tính hiếu nghĩa, và đức độ
Nhân Hòa trong cư xử hàng ngày với học trò, hẳn
không thể nào có được.
Khi đọc và hiểu
Luận Ngữ, độc giả sẽ có cơ hội hiểu
nguyên nhân căn gốc mà Mạnh Tử xây dựng ý thức
"Dân Vi Quí " một cách mạnh mẽ, là do đi từ
chữ NHÂN (yêu người 仁) trọng tâm của tinh thần "Vi
Chính" từ Khổng Tử. Độc giả sẽ hiểu
tại sao sách Đại Học cũng khai triển từ
chữ NHÂN(仁) và phải đi
từ tâm nhận thức (Thành ý, chính tâm, cách vật, trí
tri) của con người(人) nói chung, chứ không phân biệt kẻ cầm
chính hay ngưòi bình dân (Tự thiên tử dĩ chí ư thứ
dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản), và càng không phải
là "Đạo của kẻ thống trị, hay Đạo
của kẻ đi làm quan" như nhiều ngưòi hồ
đồ kết án. Hiểu
được như vậy, độc giả có thể
thấy rõ Khổng giáo nói chung và sách Luận Ngữ hay
Đại Học, kể cả Trung Dung nói riêng, không chỉ
viết riêng cho giới "lãnh đạo cầm quyền"
để xây dựng "cơ chế chính trị nhà
nước", mà chính là xây cái gốc của xã hội,
đó là "con ngưòi", nơi mà mục tiêu chí thiện
là hạnh phúc của con người, nhân phẩm con
ngưòi được tôn trọng bình đẳng (yêu
người 仁).
Trong khả
năng nhỏ bé, lực bất tòng tâm, dám mạo muội
nhuận chính các bản dịch Luận ngữ, chỉ mong
làm công việc giới thiệu với thế hệ thanh
niên trong nỗ lực mở Dân Trí. Chúng tôi mong mỏi
được nhận những cao kiến góp ý của những
độc giả cao minh giúp chúng tôi làm sáng tỏ những
chỗ còn thiếu khuyết.
Trân trọng Thân
Kính
Duy Việt
Lời bàn “Chung quanh Luận Ngữ” G.S Kim Định Có lẽ sách được hình thành trong ba giai đoạn. Đợt trước tiên gồm có 9 chương đầu. Đợt nhì thêm 5 chương từ 11-16. Đợt ba gồm từ Tiết 16-20. Học giả Thôi Thuật nhận xét: 15 chương đầu chỉ nói Tử viết; còn từ Tiết 16 trở đi mới nói Khổng Tử viết. Tiết 19 của môn đệ nhiều hơn của Khổng Tử, tuy nhiên cũng có thể coi là chính thống như các chương trên, nhưng số chữ xen giặm có nhiều hơn. Người ta cho rằng đời Tiền Hán có ba dịch bản (versions) đến sau được dồn lại một bản mới, bản này được tạc vào bia năm 175 t.c.n. So với bản lưu hành hiện nay thì có ít nhiều dị biệt thuộc chi tiết không đáng kể. Theo học giả Karlgren (34-35) thì Luận Ngữ có lẽ viết vào cùng một thời với sách Mạnh Tử, vì cả hai có hệ thống Ngữ luật giống nhau, những sự dị biệt là do các vấn đề khác nhau của hai sách mà thôi, như kiểu nói xét về đàng: Mạnh V.1 “dĩ vị”. Có người nhận xét là ở cả hai sách thấy thiếu một số ý niệm như chữ địa hiểu theo nghĩa siêu hình (tức là quan niện đối đáp với Thiên) và chưa thấy ý niệm của âm dương và ngũ hành. Nếu viết muộn vào quãng cuối Chu đầu Hán thì thế nào cũng có mấy ý niệm trên. Nhưng đó là ý kiến không đủ thế giá. Vì âm dương ngũ hành có trướg đời Khổng (xem bài Ngũ hành trong “Chữ Thời”). Trong Luận Ngữ, Khổng Tử không xuất hiện như một hiền triết siêu phàm, nhưng là một người đơn sơ, dễ hiểu, bình hành, chưa bị thần thánh hóa hoặc nâng lên tận mây xanh như các giai đoạn về sau, và cũng không thấy ông nói có giữ chức quan đại thần bao giờ. Trái lại, ông chỉ là một người đang chiến đấu, có những điều nghi nan, những yếu đuối cũng như những “thành kiến” (ghét lời trau chuốt), những thâm tín tư riêng. Giáo sư Creel cho rằng Luận Ngữ là của Nho giáo thế mà lại không xóa bỏ những đoạn có thể giảm giá Nho giáo. Thí dụ Tiết 19 các điều tranh luận giữa môn đệ hay là ý kiến cho Tử Cống giỏi hơn Khổng, hoặc Khổng đi viếng bà Nam Tử ( L.N. VI 26) làm bối rối nhiều Nho gia có óc quá thanh giáo (Puritain) cũng như bên đối phương đã dùng làm trò chế Nho giáo (Diêm Thiết Luận 72-73) thì điều đó giáo sư cho là chứng minh được sự chính xác của Nho giáo và đáng ta kính hơn. Tuy nhiên Luận Ngữ chứa nhiều câu có thể nghi là giả tá xen giặm. Trong đó Tiết 10 đặt ra một vấn đề đặc biệt và được nhiều học giả kể là một thiên thuộc nghi lễ đã được xen vào sau, khi đã rắc lên một chút Khổng (câu 2,11,12) (Waley 55 Maspéro, Chine antique 459). Một số câu khác (XVI. 14, XVIII 9-11) không ăn nhằm chi với Khổng Tử hay môn đệ của ông nên rất có thể là xen vào sau. Những câu XIV 39,42 (hiền giả tị thế) có mùi Lão Trang ẩn dật, câu XVI 11-12 đề cao tị thế cũng vậy. Các học giả còn đưa ra một số câu nữa, nhưng có thể nói là thuộc phạm vi học thuật hơn là triết lý. Tóm lại ở khóa giảng lớp dự bị chuyên biệt này nhằm hai điểm chính: trước nhất là tìm ra mối nhất quán của triết Nho và sau là dùng sách Luận Ngữ làm căn bản. Khi đã nắm được then chốt rồi mới đề cập các Kinh Truyện khác với những đề khác. .... (Trích Kim Định Cửa Khổng)
[][
Ghi Chú:
Chúng tôi chép lại và hiệu
đính một số bản dịch sách Luận Ngữ dựa
theo bản in của tác giả Đoàn
Trung Còn, giám đốc Phật Học Tùng Thư, in năm
1950 tại nhà in Trí Đức, 143 Đề Thám Sài Gòn.
Sách gồm 20 chương: từ
chương 1 "Học Nhi" có 16 tiết , tức là 16
câu trao đổi hay nhận định của thầy trò
Khổng Tử, đến chương 20 "Nghiêu Viết"
chỉ có 3 tiết. Chúng Tôi sẽ tạm chia Sách làm nhiều phần để tiện
việc nhuận chính và kiểm tra cho đến khi hoàn tất. Duy Việt sẽ cố gắng
hoàn tất từng chương một để độc
giả theo dõi. Đây cũng là điều tốt, vì
văn cổ xưa ngắn gọn, ý tưởng súc tích,
độc giả có thời gian từ tốn nghiền ngẫm
những câu trao đổi của thầy trò ông Khổng cũng
là điều cần thiết trong khi chờ đợi.
Trong khi chờ
sách hoàn tất, chúng tôi xin nhắc nhở trong lúc ghi chú
đánh máy ghi lại lối viết, phát âm "quốc ngữ" cũ,
thường có sai lầm ngộ nhận giữa hai từ giả(者) và dã (也) hay nằm ở
giữa và cuối câu văn. Chúng tôi cố
gắng kiểm tra và điều chỉnh. Và cũng vì vậy chúng tôi cố gắng
ghi rõ phần chữ Nho ngay trên đầu mỗi tiết
để độc giả đối chiếu và giúp chúng
tôi điều chỉnh trong khi đọc. Xin trân trọng
cáo lỗi sự sai khuyết chưa kịp sửa này.
者 giả:
Đại từ
danh Xưng thay người hoặc
sự vật. Như Ký Giả 記者, tác giả 作者
也 dã: Trợ từ
-Đặt ở cuối câu, biểu thị
phán đoán hoặc khẳng định, tán thán v.v
Trân trọng
論語 Luận Ngữ
Mục lục
Chương 6: 雍也第六: Ung Dã-(28 tiết)
Chương 7述而第七: Thuật Nhi-(39 tiết)
Chương 8 泰伯第八: Thái Bá-(21 tiết)
Chương 9 子罕第九: Tử Hãn-(29 tiết)
Chương 10鄉黨第十: Hương Đảng-(18
tiết)
Chương 11先進第十一: Tiên Tiến-(25 tiết)
Chương 12 顏淵第十二:Nhan Uyên-(23 tiết)
Chương 13子路第十三:Tử Lộ-(30
tiết)
Chương 14憲問第十四: Hiến Vấn-(47
tiết)
Chương 15衛靈公第十五: Vệ Linh Công-(41
tiết)
Chuơng 16季氏第十六: Quý Thị-(14 tiết)
Chương 17 陽貨第十七: Dương
Hóa-(25 tiết)
Chương 18 微子第十八: Vi Tử-(11 tiết)
Chương 19 子張第十九: Tử
Trương-(25 tiết)
[][
Tham Khảo:
Rites of Zhou (Chu Lễ)
The Rites of Zhou (Chinese: 周禮/周礼;
pinyin: Zhōulǐ) also known as Zhouguan (Offices of Zhou) is one of
three ancient ritual texts listed among the classics of Confucianism. It was
later renamed to Zhouli by Liu Xin to disambiguate from a chapter under Classic
of History known as Zhouguan. Though tradition ascribed the text to the
political figure Duke of Zhou or the first editor Liu Xin, the work is
considered by modern scholars to have been an anonymous utopian constitution.
For many centuries the book was joined to the Classic of Rites and the
Etiquette and Ceremonials and thus constituted one of the Three Rites of
Chinese literature.
Compilation
The book appears in middle of the 2nd century BC, when
it was found and included in the collection of Old Texts in the library of
Prince Liu De (d.130 BC). The first editor, Liu Xin, originally thought to be
the author of the book since the Song Dynasty, was the first scholar known to
ascribe the work to the Duke of Zhou. In the late 19th and early 20th
centuries, the book was often seen as a Lin Xin's forgery (after a claim to
this effect by Kang Youwei). And a few holdouts in the scholarly community
continue to insist on a Western Zhou date for the classic, but the majority,
with good reason, follow Qian Mu and Gu Jiegang in ascribing them to about 3rd
century BC. Present day scholars, such as Yu Yingshi converging on the late
Warring States as the date of compilation of the book, some basing their
hypothesis on a comparison of official titles in the text with extant bronze
inscriptions, others on the knowledge of the calendars that appears implicit in
the text.
The book is divided in six sections under the title of;
Offices of Heaven, discusses government in general;
Offices of Earth, on education;
Offices of Spring, on social and religious institutions;
Offices of Summer, on the army;
Office of Autumn, on justice;
Office of Winter, on population, territory, and
agriculture.
In the 12th century, it was given special recognition by
being placed among the Six Classics as a substitute for the long-lost Classic
of Music.
-
Classic of Rites (Lễ Ký)
Classic of RitesThe Classic of Rites (traditional
Chinese: 禮記; simplified Chinese: 礼记; pinyin: Lǐjì) was one of the
Five Classics of the Confucian canon. It described the social forms, ancient
rites, and court ceremonies of the Zhou Dynasty. The original text is believed
to have been compiled by numerous Confucian scholars during the Warring States
Period.
Compilation
During the 1st century BC, the text was extensively reworked
by Dai De (Senior Dai) and his nephew Dai Sheng (Junior Dai). The version of
Junior Dai, which was composed in forty-nine chapters, is what we regard as the
work today. While the version of the Senior Dai are preserved only in
fragments, modern scholars believe that the original title, Lijing
("Classic of Rites"), was dropped so that jing ("classic")
would be reserved for works more directly connected with Confucius. By itself,
the book includes the Classic of Music (chapter 19), however this version of
the work is in a much dilapidated form from the original, which is now lost. In
1993, a chapter of the book, "Black Robes", was found in tombs of
Guodian, in Hubei, dated to 300 BC.
The book also includes two other chapters, particularly
the Great Learning (chapter 42), and the Doctrine of the Mean (chapter 31), the
original text of which is believed to have been compiled by one of Confucius's
disciples. Both of these "books" are considered part of another
collection known as the Four Books.
The book is sometimes incorporated into the Three Rites
with two other documents, the Rites of Zhou and the Etiquette and Ceremonials
by the 2nd century AD.
Contents
Table of Contents ## Chinese Pinyin Translation
01-02 曲禮上下 Quli Summary of the Rules of Propriety
Part 1 & 2
03-04 檀弓上下 Tangong Tangong Part 1 & 2
05 王制 Wangzhi Royal Regulations
06 月令 Yueling Proceedings of Government in
the Different Months
07 曾子問 Zengzi Wen Questions of Zengzi
08 文王世子 Wenwang Shizi King Wen as Son and
Heir
09 禮運 Liyun The Conveyance of Rites
10 禮器 Liqi Utensils of Rites
11 郊特牲 Jiaotesheng Single Victim At The
Border Sacrifices
12 內則 Neize Pattern of the Family
13 玉藻 Yuzao Jade-Bead Pendants of the
Royal Cap
14 明堂位 Mingtangwei Places in the Hall of
Distinction
15 喪服小記 Sangfu Xiaoji Record of Smaller
Matters in the Dress of Mourning
16 大傳 Dazhuan Great Treatise
17 少儀 Shaoyi Smaller Rules of Demeanour
18 學記 Xueji Record on the Subject of
Education
19 樂記 Yueji Classic of Music
20-21 雜記上下 Zaji Miscellaneous Records Part 1
& 2
22 喪大記 Sang Daji Greater Record of Mourning
Rites
23 祭法 Jifa Law of Sacrifices
24 祭義 Jiyi Meaning of Sacrifices
25 祭統 Jitong A Summary Account of
Sacrifices
26 經解 Jingjie Different Teaching of the
Different Kings
27 哀公問 Aigong Wen Questions of Duke Ai
28 仲尼燕居 Zhongni Yanju Zhongni at Home at
Ease
29 孔子閒居 Kongzi Xianju Confucius at Home at
Leisure
30 坊記 Fangji Record of the Dykes
31 中庸 Zhongyong Doctrine of the Mean
32 表記 Biaoji Record on Example
33 緇衣 Ziyi Black Robes
34 奔喪 Bensang Rules on Hurrying to Mourning
Rites
35 問喪 Wensang Questions About Mourning
Rites
36 服問 Fuwen Subjects For Questioning About
the Mourning Dress
37 間傳 Jianzhuan Treatise on Subsidiary
Points in Mourning Usages
38 三年問 Sannian Wen Questions About the
Mourning for Three Years
39 深衣 Shenyi Long Dress in One Piece
40 投壺 Touhu Game of Pitch-Pot
41 儒行 Ruxing Conduct of the Scholar
42 大學 Daxue Great Learning
43 冠義 Guanyi Meaning of the Ceremony of
Capping
44 昏義 Hunyi Meaning of the Marriage
Ceremony
45 鄉飲酒義 Xiangyin Jiuyi Meaning of the
Drinking Festivity in the Districts
46 射義 Sheyi Meaning of the Ceremony of
Archery
47 燕義 Yanyi Meaning of the Banquet
48 聘義 Pinyi Meaning of Interchange of
Missions twixt Different Courts
49 喪服四制 Sangfu Sizhi Four Principles
Underlying the Dress of Mourning
|
|---|