Quạt Một Lần Cờ
Nguyên
Khả

Ngày
xưa ông già Khổng dạy học tṛ việc ứng xử
“chính chị” rằng:
·
Xét việc của Vua, mà xét
quá nó không nghe, đâm sẽ bị nhục! Xét việc của
Bạn mà Xét quá nó ghét, đâm t́nh nghĩa "sơ tán"
cả!!!
V́ vậy, Cứ dùng cái ngay
thẳng đúng đắn mà xét. Không được th́
"một lần rồi thôi vậy"! Chứ không ́ xèo
đâm nhục, phí giờ cả ra!
·
Sự Quân sác, tư nhục
hỹ. Bàng hữu sác, tư sơ hỹ! Trung cáo nhi thiện đạo
chi. Bất khả tắc chỉ. Vô tự nhục yên! (Luận Ngữ)
Kể
ra cái ông già ấm ớ này, gàn giở lẩm cẩm mà cũng
có lư. Chuyện cờ quạt ba que giẻ rách giẻ lau,
Tôi cũng đă nhiều lần xét khá kỹ.. bằng hữu
đồng chí, đồng bào ..họ la toáng lên xỉ vả,
chụp mũ hăm dọa đủ cả. Nhưng việc công nghĩa đạo
lư, biết mà không nói là bất nghĩa, nói mà không nói hết
là bất nhân.. cho nên Tôi cũng đành lấy hết sức
nhỏ tài sơ trí thiển nói một lần cho ngay thẳng
rồi thôi..
Việc “nguyên ủy” cũng
là tại cái ông nhà giáo già, c̣n là sử gia nữa cơ, Trần
Trọng Kim, với tâm thức dân tộc bảo thủ và
bảo hoàng mon men bước vào cuộc chính trị trong buổi
tương tranh giao thời giữa dân chủ và quân chủ
phong kiến. Ông đă trở thành thủ tướng đầu
tiên và cuối cùng của một đế quốc vừa
hồi sinh đă ..vội chết! Đế Quốc Việt
Nam, là tên hiệu mà chính phủ của ông đẵ đặt
cho 3 miền thuộc địa cựu Đại Nam khi
được Nhật trao trả độc lập ngày
11-3-1945. “Đế Quốc Bất Hạnh” này chỉ sống
từ 11-3- đến 25-8 -1945 khi Bảo Đại thoái vị
-đúng 168 ngày.
Trong hồi kư Một
Cơn Gió Bụi của ông, có viết như sau:
“Nước Việt Nam đă là một
nước tự chủ (!?), th́ phải có quốc kỳ
và quốc ca. Bài quốc ca th́ từ trước vẫn
dùng bài “Đăng Đàn”, là
bài ca rất cổ mà âm điệu nghe nghiêm trang. Chúng tôi
nghĩ trước khi có bài nào hay hơn và có ư nghĩa lư
hơn th́ hăy cứ dùng bài ấy.
C̣n lá quốc kỳ, mỗi người
bàn một cách, chúng tôi định đem hỏi mọi
người trong nước và ai có ư kiến ǵ, th́ vẽ
kiểu gởi về . Có kiểu lá cờ vàng quẻ Ly ở
giữa là có ư nghĩa hơn cả. Chúng tôi định lấy
kiểu ấy làm quốc kỳ.

Lá cờ vàng là từ xưa nước
ta vẫn dùng. Trong sách “Quốc Sử Diễn Ca” nói khi bà
Triệu Ẩu Triệu Ẩu,
Ẩu ở đây trong tiếng Hán-Việt có nghiă là Mụv́
lúc đó quân Đông Ngô cay cú bà và miệt thị bà Triệu. cho nên gọi bà là con "Mụ
Triệu" trong lúc thách chiến. Nhưng với ḷng quân sĩ
Tầu họ sợ Bà, gọi Bà là Lệ Hải Bà
Vương, nghĩa là gặp là hăi sợ. Tên thật bà là
Triệu Thị Trinh, có sách viết là Triệu Nguyên. (Góp ư
chú thích của bạn Tranh Hùng) nổi
lên đánh quân Tầu, đă dùng lá cờ ấy khởi nghĩa,
nên có câu rằng “Đầu voi phất ngọn cờ vàng”.
Vậy lấy sắc cờ vàng là hợp với ư cách mệnh
của tổ quốc, lấy dấu hiệu quẻ Ly là
v́ trong lối chữ tối cổ của ta có tám chữ
viết bằng vạch liền (dương) và những vạch
đứt (âm) để chỉ tám quẻ, chỉ bốn
phương chính và bốn phương bàng, nói ở trong
kinh dịch, mà quẻ Ly chủ phương Nam. Chữ Ly
c̣n có nghĩa là lửa là văn minh là ánh sáng phóng ra bốn
phương.
Lấy sắc vàng sắc vàng là hợp với
lịch sử, lấy quẻ Ly là hợp với vị trí
nước nhà, lại có nghĩa chỉ một nước
văn hiến như ta thường tự xưng. Như
thế là lá cờ vàng vẽ Ly là có đủ các ư nghĩa.
Song có người nói: Cờ quẻ Ly là
một điềm xấu cho nên thất bại, v́ ly là ĺa.
Ly là ĺa là một nghĩa khác chứ không phải nghĩa chữ
Ly là quẻ. Và việc làm của một chính phủ là cốt
ở cái nghĩa lư, chứ không phải sự tin nhảm
vô ư thức.
Việc thất bại là v́ t́nh thế chứ
không phải v́ lá cờ. Giả sử dùng lá cờ khác mà
trong hoàn cảnh ấy có thay đổi đuọc ǵ không?
(Trần Trọng Kim, “Một Cơn Gió Bụi”
Vĩnh Sơn SaiGon 1969, tr 36)
Ở đây, Tôi xin
được xét về cái gọi là bản “quốc ca”
trước, rồi ta sẽ bàn rộng hơn về “quốc
kỳ” sau.
1- “Quốc ca Đăng
Đàn” là ǵ?
Thật ra bài “Đăng đàn” không phải là
quốc ca theo đúng nghĩa mà chúng ta ngày nay quan niệm.
Bài “Đăng Đàn” cung này là một điệu nhạc
cổ đă có từ thời Nguyễn Ánh, cho lệnh soạn
ra khi lên đăng cơ làm vua.
Nguyên nghĩa của chữ Đăng Đàn là để
chỉ việc hành cử tế lễ "đăng đàn"
(bước lên đàn bục) của vị chủ tế
để hành lễ. Và cũng dùng trong cung đ́nh mỗi khi
vua du xuân hoặc khi xa giá từ Đại Nội lên đàn
Nam Giao vào thời đó. Nó chỉ là nhạc
“thiều”soạn theo lối nhă nhạc bằng “ngũ âm”
(Xàng Xê Cống Xự Líu). V́ thế chắc chắn phải
trang nhă, nhưng chỉ là nhạc thôi chứ không có lời.
Theo lời kể của
ông Lê Văn Lân trong ”QUỐC KỲ VÀ QUỐC CA VIỆT NAM-
TRONG NỬA ĐẦU THẾ KỶ 20 QUA” măi đến thời
Bảo Đại về
nước năm 1932, bản nhạc
mới
được đặt lời do ông Ưng Thiều viết
dùng để nghênh đón Bảo Đại. Bốn câu mở
đầu bài là :
Dậy, dậy,
dậy mở mắt xem toàn châu
Đèn khai
hóa rọi khắp toàn cầu
Ngọn
đường thông thương ngàn dặm
Xe tàu điện,
tàu nước, tàu bay...
Như
vậy, bài này không phài “quốc ca”
trong ư nghĩa lời ca của quốc dân, phổ cập
của mọi ngựi công dân, mà chỉ là nhạc cung
đ́nh và có quốc thể theo tính quân chủ đế quốc
mà thôi.
2-
Quốc
Kỳ hay là cờ ǵ?
Ông Trần Trọng Kim,
và những ngựi sau này, sử dụng câu:
"Đầu
voi phất ngọn cờ vàng,
Sơn
thôn mấy cơi chiến trường xông pha"...
Tả cảnh bà Triệu Thi Trinh xuất quân
đánh giặc Tầu trong Đại Nam Quốc Sử diễn
ca để chứng ḿnh mầu vàng là mầu “quốc kỳ”
và là mầu của chính thống. Nhưng ở đây, trong
trường hợp bà Triệu chắc chắn đây không
phải là quốc kỳ, và cũng không phải là
vương kỳ hay đế kỳ, mà có lẽ chỉ
là soái kỳ. Bà Triệu chưa làm Vua, chưa lập kinh
đô, chỉ chống đỡ quân Tầu (Đông Ngô do
tưóng Lục Dận thứ sử Giao Châu thống lănh)
có mấy tháng, rồi thua, phải tuẫn tiết.
Sách “Lễ Kư" bàn chép
về Bát Quái trận, cờ làm vương hiệu
soái quyền trung quân Hoàng Kỷ (vàng); tiền quân Điều
Kỳ (đỏ) ; hậu quân Huyền Vũ kỳ
(đen), tả quân Thanh Long kỳ (xanh), hữu quân Bạch
Hổ kỳ. Ngựi xưa theo binh pháp điều quân từ
trung ương phát lệnh tiến thoái bằng cờ hiệu
cho nên Bà Triệu cỡi voi ở trung quân giữ cờ
vàng.
Thế nhưng chỉ
vin vào một cái cờ vàng của bà Triệu chỉ huy trận
đánh Tầu đông Ngô năm 248 sau Tây lịch, rồi cho
đó là tiêu chuẩn chính thống th́ e hồ đồ
không được ổn.Vậy c̣n trươc đó Bà
Trưng làm vua 3 năm (40-43), đóng đô ở Mê Linh,
vương kỳ của bà mầu ǵ? Và sau đó bao nhiêu
đời vương kỳ mầu ǵ ra sao? Chẳng ai biết.
Bởi ư niệm “quốc kỳ” đă có đâu.
Nhưng ta được
biết lệ thường ở
phương Đông trong 4
nưóc đồng văn gần cận với ảnh
hưởng nhau có lệ viết chữ lên cờ để
dương oai danh, diệu vũ dũng. Như vậy khi
Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi
Hoàng Đế đầu tiên (Đinh Tiên Hoàng) đặt
tên nưóc là Đại Cồ
Việt
(968 – 980) chăc chắn có đế
kỳ, màu ǵ chưa rơ, nhưng có thể tự tin mà nói rằng
cờ có thêu, hoặc vẽ chữ Đại Cồ Việt
cắm ở thành Hoa Lư.
Đến đời
Quang Trung hoàng đế, đánh quân Thanh với chiến sử
Đống Đa, ta mới nghe nói đến cờ đỏ
có thêu chữ Nôm, Quang Trung Hoàng Đế.. Đế kỳ
oanh liệt 1789-1802 là cờ đào (đỏ).
“Mà nay áo vải cờ
đào
Cùng dân dựng
nưóc xiết bao công tŕnh” Ai
tư văn, Ngọc Hân
Cao Bá Quát khởi nghĩa năm 1854 – 1855 ở Mỹ Lương cũng
phất cờ có chữ “B́nh Dương Đồ Bản
vô Nghiêu Thuấn, Mục Dă Minh Điền hữu Vơ
Thang” để nêu cao chính nghĩa,
tuyên cáo nguyên nhân và mục
đích của nghĩa quân. Ta
đă thấy mục đích của Cờ là minh định
công bố, rơ ràng hiên ngang, uy vũ và đường bệ
(majestic)
Nhưng
điểm chính Tôi muốn nói ở đây là dù là cờ ǵ,
như thế nào, th́ ư niệm Cờ cũng không “quan trọng”
trong vị thế quốc gia như chúng ta quan niệm và xử
dụng hôm nay. Cho nên hầu hết trên thế giới phải
đợi đến thế
kỷ 18 trở đi, cờ quạt mới được
chú ư và “rầm rộ”. Và Việt Nam ta không là ngoại lệ.
Chẳng ai để tâm quan trọng cho nên sử sách cũng
chẳng ghi chú rơ ràng. Đinh, Lê ,Lư Trần Lê, Tây Sơn,
Nguyễn v.v Chẳng ghi chép tỉ mỉ làm chi.
Măi
đến khi bị đô hộ, kẻ đô hộ dùng cờ
dưong oai minh định thanh thế, kẻ bị trị
với ư chí vùng lên cũng mới bặt đầu nhập
cuộc chơi “cờ!”
V́ vậy mà trong suốt thời kỳ giao tranh rồi khi
bị toàn trị, thành thuộc địa , cờ quạt
không ra làm sao, và cũng chẳng ai quan trọng hóa nó “linh
thiêng” linh tháo ǵ hết. Từ khi đất nưóc hoàn toàn
nằm dưới ách thống trị của Pháp, người
ta thấy đất Nam kỳ (sau Hoà ước Giáp Tuất
1874) đă trở thành thuộc địa nên phải chào cờ
Pháp (Tam Thể, Tam Sắc hay ba mầu) của mẫu quốc
Pháp. C̣n Triều đ́nh Huế sau khi thua kư Hàng ước
(Patenôtre) với Pháp tại Huế, chấp nhận nền bảo
hộ của nước Pháp và nước Pháp thay mặt
nước An Nam trong mọi quan hệ đối ngoại kể từ ngày 6-6-1884 ...Th́
nước Việt ta lại có hai 2 lá cờ . Cờ của
vua (vương kỳ) dùng ở
Triều đ́nh Huế màu vàng, góc trái có thêu h́nh “rồng
năm móng”. C̣n ở công sở, là "nô lệ kỳ"
hay “thuộc địa kỳ” cờ vàng không có rồng
nhưng là h́nh cờ Pháp ở góc. Toàn bộ đất nưóc ta lúc
bấy giờ từ năm 1884 đến năm 1945 t́nh
h́nh cờ quạt "chính thống" là như thế.
Cũng dễ hiểu, v́ một đất nước lạc
hậu, lại bị nô lệ th́ không thể khác hơn.


Ta cũng chẳng có dấu
tích hay chứng tích ǵ rơ rệt, chỉ là nghe những
ngựi sống vào thời đó kể lại. Ta chỉ
biết chắc chắn là triều
Nguyễn do Gia Long dựng lên rất nô lệ văn hóa nhà
Thanh,bắt chưóc gần rập khuôn nhà Thanh.. Cho nên Tôi
đoán rằng cái h́nh “Rồng Năm Móng” cũng bắt
chưóc của nhà Đại Thanh đại để
như trên h́nh tôi dẫn ra. (Đế
Kỳ Long Tinh của Thanh Triều 1782-1890.)
Cũng theo sự ghi
nhận của Lê Văn Lân:
·
Tôi đă
đặc biệt nhớ đến lá cờ Long tinh
được chính thức ban bố làm quốc kỳ có nền
vàng ở giữa có một vạch đỏ chạy dọc,
vạch này dày khoảng 1/3 chiều ngang của lá cờ. Sở
dĩ tôi c̣n nhớ như vậy là v́ lũ học sinh tiểu
học chúng tôi phải làm thủ công hay được phát
lá cờ này khi có lễ lạc đón tiếp hay được
đi diễn hành trước cửa Ngọ môn chúc mừng
lễ Vạn thọ của vua Bảo Đại hằng năm.
Nhà vua sanh vào ngày 22 tháng 10 năm 1913
(Quí Sửu).
Mỗi khi phất cờ th́ chúng tôi phải đồng
thanh hô lớn: "Hoàng đế vạn tuế".
·
Theo ông Quốc
Duy Nguyễn Văn An trong tài liệu dẫn trên, cờ này
do Tứ trụ của Cơ Mật viện triều
đ́nh Huế (thành lập từ 1834) bàn và ấn định
"lấy nền vàng và thêm
một gạch son trên ấy để biến thành lá cờ
Long Tinh tiêu biểu cho uy quyền Triều đ́nh Quốc
gia trên hai phần đất c̣n lại của Việt Nam
(Bắc và Trung) trong suốt thời Pháp thuộc".
·
Theo Tuệ
Quang Tôn Thất Tuệ, lá cờ Long tinh nói trên sở dĩ
có là v́ "Thời đệ
nhị thế chiến (1939-1945) , trước áp lực của
Nhật, thực dân Pháp t́m cách thoa dịu người Việt.
Thừa cơ hội đó, vua Bảo Đại lần đầu
ban chiếu ấn định quốc kỳ và quốc
ca" (trích bài "Góp ư với ông Phan Tuấn Triết về
Cờ Vàng Ba sọc đỏ" của T.T.Tuệ -
14/10/1996). “
·
Dựa
theo bài "The Đăng Đàn Cung Hymn" của cụ Nguyễn
Khoa Toàn, cựu Đại sứ của Quốc gia Việt Nam
tại Thái Lan, viết ngày 15 tháng 11 năm 1952 th́ nhu cầu
đặt cho Việt Nam một lá quốc kỳ cũng
như quốc ca có lẽ vào dịp vua Khải Định qua
Pháp vào ngày 15 tháng 5 năm 1922 để dự cuộc Đấu
xảo Quốc tế ở Marseille, đồng thời
mang Hoàng tử Vĩnh Thụy mới 9 tuổi gửi gắm
cho ông cựu Khâm sứ Charles để lưu học tại
Pháp. Nên có thể cờ Long T́nh đă được manh nha
dự định chế ra cho Việt Nam nhân dịp này
chăng?

Như vậy ngay cái cờ
“Long Tinh” (vía rồng, khí rồng- độc gỉa để
ư h́nh con rồng ngựi Tầu vẽ luôn luôn khè cái cục ‘tinh” mầu đỏ
chói lơ lửng ra từ “mơm rồng” ) cũng chỉ là ư
niệm, ư định mới ở thời “Mạt Nguyễn”
.. Nó chỉ được h́nh thành và sử dụng trong
vài năm cuối của triều đại nhà Nguyễn
thôi. C̣n cái “Long Tinh Tṛn” th́ chỉ là loại soái kỳ cờ
phưón ǵ đó ..

(đế kỳ Long Tinh
Thanh Triều 1890-1912)
Vậy mới thấy cái cờ
“ba que quẻ càn” kiểu John Lenon (Imagine) tưởng tượng
mà Việt Tân và cái tên da trắng đầu đen mũi tẹt
nào đó bảo rằng có từ năm 1890-1920 quả là
tṛ “ảo thuật” của đám trẻ mới học nghề
bịp kiểu Sơn Đông măi vơ. Phất phới bay trong
30 năm mà sao chẳng ai hay biết? Cả đến gă
“Vua”, hoàng đế , dù là chỉ biết ăn nhậu và
chơi gái, nhưng là vua thứ thiệt, cũng không biết là nưóc của
ḿnh có cái của quí “quốc kỳ” đó. Mà thôi, v́ là vua Bảo
Đại vô trách nhiệm chỉ giỏi cai đàn bà, (mà lại
toàn đàn bà đẹp và sang, th́ cũng kể là bản
lănh và tài lớn hơn Hồ Chí Minh, hơn Tôi ở cái khoản
này. Bố khỉ ngựi viết mơ mà không được!)
nên không để ư. Thế c̣n ông thủ tưóng giáo sư,
sử gia, cũng không biết là nưóc ta có cái “của quí ấy”
đến cả 30 năm ngay trong thời ḿnh trưởng
thành làm việc. Mà lại là
“quốc kỳ” cơ đấy nhé, nghĩa là lồng lộng
công khai, nhiều cái treo nhiều nơi, nhiều ngựi biết
và có dùng hàng ngày, chứ không phải ṿng vàng châu báu hay nghiên
mực tức mặc hầu, hoặc ấn quốc bảo
duy nhất, bị cất trong tủ, trong kho của triều
đ́nh. Thế mà chẳng ai biết.. đến nỗi ông sử
gia thủ tướng và cả cái nội các khoa bảng
hàng đầu kia, phải nặn
đầu găi tai, bàn thảo với đủ lư cớ gàn bướng để vẽ
ra cái cờ quẻ Ly “đế kỳ”.. rồi bạc mệnh
xấu số sống chỉ được 168 ngày. Và rồi
phải đợi đến hơn 80 năm sau 1920-2004, mới
có thằng tây tóc đen mũi tẹt ”phát hiện” lén bỏ
vào trang mạng.. và được một gă Việt Tân khám
phá -̀ nô vay tờ- (innovator) tung hê ra.
Dân Việt Nam, từ thằng
có học cho đến dân đen, quả là vô tâm đần
độn. Mất nưóc là đáng đ̣i! Đến cái
“cờ tổ quốc” vàng khè như vậy treo trưóc mặt
nhiều nơi trong suốt 30 năm ṛng (1890-1920) cũng
không biết, không nhớ, lại để 80 năm sau cho
thằng Tây nó thẩy lên mạng..rồi nhẩy cà tưng
ôm vào làm của linh thiêng, mà không chịu hỏi nó xem nó lấy
từ đâu, dấu tích bằng chứng như thế
nào..Bố khỉ , dân đă ngu đần vô tâm vô tính, mà cả
đến các sử gia tầm cỡ như Trần Trọng
Kim, rồi sau này như Phạm Văn Sơn, bây giờ Vũ Ngự Chiêu v.v
có biết “nhục” với cái
thằng tây tóc đen mũi tẹt nào đó không? Sao không thấy
lên tiếng nhỉ? Hay là thấy nó trẻ con nham nhở
quá nên không chấp chăng? Nếu
vậy cũng đúng..
Đến cái “chứng cớ”
lá cờ thứ hai “Đại Nam” th́ hết thuốc chữa!!!
Dù cũng đă biết vận dụng lệ viết chữ
vào cờ của thời quân chủ, nhưng lại tối
dạ đến độ phỉ báng văn hoá tư
tưởng tiền nhân!
thư pháp (Triện, Lệ, Đại, Chân, Hành, Thảo)
th́ cái chữ Đại Nam này cũng không ra con giáp nào cả!
Nét bút lông cũng không phải, mà nét bút tre cũng không giống.. Như đă nói mục đích của
Cờ, nhất là “quốc kỳ” hay là cờ khởi nghĩa
cũng là muốn hiên ngang minh định tư thế
đựng bệ..cho thiên hạ bá tính biết, để
không dương oai diệu vơ th́ cũng xiển
dương chính nghĩa. . chứ ai lại đă làm cờ
c̣n thậm thụt dấu đút như vậy. Không kể
đến một điểm mà người ngu dốt kém
cỏi như tôi cũng biết, là các cụ ḿnh xưa chữ Nho viết chữ từ
phải qua trái, chứ không viết từ trái qua phải
như bây giờ, nghĩa là lẽ ra chữ Nam phải ở bên trái -rồi chữ
Đại ở bên phải mới
đúng cách cơ đấy !!!
Mà
cũng kỳ lạ, sau bài viết “Những điều cần
phải nói” Tôi trở lại trang của “thằng tây mũi
tẹt tóc đen” (chắc chắn Mỹ gốc Ngụy
100%) th́ lại thấy nó vẽ thêm râu cho cái cờ Đại
Nham (nhở) này. Năm 2004-2005 nó chưng “bằng cớ”
cái h́nh chữ “ai cập đại n(h)am nhở)” một kiểu
chổng mong vào nhau; đến năm 2007 lại thấy nó
đổi sang nh́n na ná như một ả me mỹ và thằng
ma cô Bến Thành! Mẹ bố
khỉ! Thế th́ rơ là thằng
này thấy động ổ nên sửa đổi tự vẽ
theo lời khuyên (Imagine) “tưởng bở” của John
Lenon.
Thôi thôi, giời ạ..Có
bàn ra cũng phí nhời..Dân ta vốn đă ngu đần, dại
dột vô tâm..Cờ “tổ quốc” 30 năm (1890-1920) treo lủng
lẳng nhiều nớ, trong đại sảnh, nơi công
thự, mà không ai biết , chẳng ai nhớ..nhưng lại
nhớ đến cái cờ chỉ có vài tháng cách đó cả
ngàn năm của bà Triệu!!! Chứ huống ǵ đến
cái cờ “Đại Nham Nhở” của một thằng bá
vơ không tên không tuổi vẽ ra, rồi vẽ đi vẽ
lại... Nghĩ phát mệt... cho cái thằng ngụy vẽ
cờ này quá..!!! Giẻ đă rách rồi , nó có làm nát ra, cũng
đă sao đâu? Thiên hạ ngựi ta “cao minh” chẳng ai
đếm xỉa đến, chẳng cho là nhục, chẳng
cho là bị xúc phạm.. mà sao ḿnh cứ phải xen vào làm
ǵ?
-Nói tóm lại, cái gọi là quốc kỳ tự chủ,
mang ư nghĩa chính đáng của vị thế quốc gia tự
chủ, nhân dân tự do theo chúng ta hiểu th́ từ khi lập
quốc cho đến suốt thời bị Pháp đô hộ
la KHÔNG CÓ.. bởi v́ ngựi xưa không quan niệm
như chúng ta hôm nay và không lấy làm quan trọng cho lắm.

Cho
nên một điều chúng ta có thể xác quyết rằng Đế Kỳ Quẻ Ly 1945,
chính là Lá cờ đầu tiên mang ư nghĩa và tầm mức
chính trị hiện đại của một quốc gia hiện
đại Việt Nam. Sau 168 ngày , quốc gia bảo trợ
nó là Đế Quốc Nhật thua cuộc tan ră, Bảo
Đại thoái vị, Đế Quốc Việt Nam cũng
tiêu tan vào ngày 25-8-1945. Sau đó Việt Minh cướp chính
quyền, nước Việt Nam mới: Việt Nam Dân Chủ
Cộng Ḥa ra đời ngày 2-9-1945 với lá cờ của
lũ ăn cướp trá h́nh Hồ Chí Minh (phỉ kỳ)
đỏ sao vàng.
T́nh h́nh chính
trị không ngă ngũ, Pháp dă tâm tái thực dân Việt Nam,
23-9-1945 đem quân trở lại Việt Nam.. và nhân dân Việt
Nam mọi tầng lớp lại tiếp tục kháng chiến
chống thực dân Pháp, trừ Bảo Đại và đám
tay sai, lính đánh thuê cho Pháp.. V́ vậy ngày 5-6-1948 Hèn-ước Hạ
Long, thực dân Pháp cho Bảo Đại và đám dân Tây
(Pháp gốc Việt) lập chính phủ và thành lập
nưóc Quốc Gia Việt Nam- trong khối Liên Hiệp Pháp,
với Quốc Trưởng là Bảo Đại . Lá cờ
ba sọc h́nh quẻ càn mới thật sự được
vẽ ra để cho mục tiêu này. Ngụy kỳ vàng ba sọc tung bay song song với Phỉ kỳ đỏ sao vàng,
dưói háng cờ Tây từ đây, và trong quần cờ Mỹ
cho đến ngày 30-4-1975, Mỹ bỏ đi, th́ lăn đùng ra chết.
PHẦN BỔ TÚC GÓP Ư CỦA THÂN HỮU
anh SÔNGĐỐC:
So
sánh và xét theo hiện trạng bối cảnh lịch sử
triều Nguyễn, triều đại cuối cùng không phải
duy nhất, của Việt Nam, Chúng ta có những dữ kiện
như sau:
Theo lập luận của những
ngựi bảo vệ “lẽ chính thống cờ vàng” th́ “
Cờ Vàng là chính thống, là do nối tiếp từ nhà
Nguyễn:

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11
Nhưng lập luận thiếu
vững chắc:
Theo
biểu đồ biên niên về cờ CHÍNH THỐNG, Chúng
ta thấy:
1-
Nhiều Triều Đại
trước đó đánh ngoại xâm- giữ nước
an dân, lập triều đại chính thống- KHÔNG CÓ QUỐC
KỲ. Quang Trung Hoàng Đế phá quân xâm lược nhà
Thanh Trung Quốc giữ nước an dân lập nhà Chính Thống
Tây Sơn v́ có Chính Nghĩa. Có Đế Kỳ Cờ
Đào chính thống.
2-
Gia Long sau khi
cướp chính quyền-hoang phí u- tối vọng ngoại
rập theo nhà Thanh- Đế Kỳ Gia Long là Long Tinh và rồng
năm móng.
3-
Từ
năm 1863 đến 1885 Cờ ǵ?
4-
Sau 1884- Việt
Nam hoàn toàn nằm dưới sự CAI TRỊ của thực
dân Pháp- Sự phi lư của cờ “Đại Nam” – 5 năm
khởi nghĩa mà KHÔNG AI BIẾT, KHÔNG AI NHỚ?
5-
Sự phi lư
thứ hai “vương kỳ nô lệ” ba sọc bay trong 30
năm mà cũng không ai biết? Không ai nhớ? Kể cả
cụ Trần Trọng Kim, sử gia , thủ tướng?
Các nhân sĩ, quan lại trong thời cũng không biết,
không nhớ?
6-
Theo tài liệu
đă dẫn cờ Long Tinh này thai nghén trong thời gian
đệ nhị thế chiến 1939-1945- không phải sau
1920.
7-
Cờ quẻ
ly Bảo Hoàng phong kiến cũng không có tính chính đáng dân
mệnh, nhưng đủ tư thế ĐẾ KỲ,
chứ không phải QUỐC KỲ.
8-
Khi Việt
Minh cướp chính quyền, dùng cờ đỏ sao vàng
tuyên bố nưóc Việt Nam Dân Chủ Cộng
Ḥa..nhưng không chính đáng và chính thống..
9-
Đến
tháng 8 năm 1948, sau khi hiệp ước Hạ Long kư kết,
Pháp cho phép Bảo Đại lập quốc gia trong Liên Hiệp
Pháp, Bảo đại lập cờ vàng ba sọc, song song
hiện hữu với chính phủ kháng chiến cờ
đỏ sao vàng.
10-
Pháp trở lại
điều hành toàn bộ chính sự và hành chánh Việt Nam
nhà nưóc Bảo Đại chỉ là bù nh́n tay sai, thanh tảo
kháng chiến Việt Nam với sự trợ giúp ngầm của
Mỹ- Trong khi Hồ Chí Minh và Đảng CSVN dùng chiêu bài
kháng chiến và thanh trừng loại bỏ các thành phần
yêu nước ưu tú không theo cộng sản. Khiến nhiều
ngựi bỏ về vùng “TỂ” dù không theo Pháp.
11-
Sau Trận
Điện Biên Phủ 1954- Geneve Đất nưóc chia
đôi dân tộc chia cắt, Hai phe đứng dưới
bóng các thế lực đại cường Nga-Hoa – Mỹ
tương tàn cho đến ngày 30-4-1975.
Xét
theo tiến tŕnh lịch sử chúng ta thấy:
12-
Chính thống
là do tính chính đáng, cái nghĩa lư mà nhà nưóc hay triều
đại vương quyền thực hiện với nhân
dân tổ quốc. Như vậy trưóc đó không biết
bao nhiêu đ̣i vua dựng nưóc giữ nưóc, nhưng
chúng ta không biết, v́ các cụ
ngày xưa không có quan niệm quan trọng hóa nó, phần v́ sự
bang giao không rộng, chỉ lẩn quẩn, Hoa, Miên Lào Thái
v.v Cho đến khi vua Quang Trung đánh quân xâm lược
Trung Quốc Nhà Thanh, chúng ta biết có tính chính đáng của
chính thống..Cờ Đào. Nhà Nguyễn không có tính chính
đáng này, sao gọi là chính thống? Khi Gia Long cướp
chính quyền, cũng như Hồ Chí Minh và Đảng CSVN
thôi, cầm quyền u tối, làm tàn hại đất
nưóc, đến nỗi giặc giă nổi lên, Cao Bá Quát
phải phất cờ bỏ “chính thống” khởi nghĩa.
Vua quan tham tàn, để nhân dân cùng khổ.. đến nỗi
đất nưóc suy yếu bị thực dân và mất
nưóc. Nhục hèn và xa xỉ đến mức độ
nhân dân sĩ phu, như cụ Phan Chu Trinh viết lời lên
án..Cầm quyền nhưng không thực hiện được
chức năng CHÍNH QUYỀN. chỉ là bạo quyền, chẳng
khác ǵ CSVN, làm hại dân, để dân khốn cùng là TÀN, TẶC
. Đến thời 1948- Bảo
Đại theo Pháp làm tay sai, sao lại gọi là chính thống?
13-
Trong giai
đoạn kháng chiến chống thực dân Triều
Đ́nh hỗn loạn , quan lại làm tay sai.. đám Bùi Bằng
Đoàn, Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đ́nh Khả do làm thông dịch
viên (thông ngôn) cho Pháp mà được phong quan chức. Ngô
Đ́nh Khả và Nguyễn Thân từng theo lệnh Pháp
đi bách hại kháng chiến yêu nước như cụ
Phan Đ́nh Phùng, nggựi đă bỏ Triều Đ́nh chính
thống v́ chính nghĩa đồng bào tổ quốc.
Đó là lẽ nghĩa lư, tính chính đáng phẩm tính bắt
buộc phải có của chính thống, đó chính là Dân Mệnh.
14-
Sau năm
1884, toàn bộ Việt Nam trở thành nô lệ.. phong trào dân
chủ nổi lên, như cụ Phan Chu Trinh, lại bị
Triều Đ́nh Nguyễn kết tội. Ngoan cố bám quyền.. Các cờ quạt không phải là
quốc kỳ mà chỉ là cờ vua của triều
đ́nh, Cờ chỉ tiêu biểu cho Vua cho ngôi vị hoàng
đế, chứ không tiêu biểu cho nưóc, cho dân. Sao gọi
là chính thống quốc kỳ.
15-
Mỗi Vua
đều làm theo ư riêng ḿnh, đổi cờ không theo “chính
thống tiên đế” cả cái cờ ba sọc, giả
thiết là có thật, sao không ai tôn trọng, không ai biết.
Khải định -1916-1925-lập cờ “long tinh riêng” chứ
không biết , không trọng cờ ba sọc?
16-
Vậy cả
cái Trriều Đ́nh đă không chính đáng, th́ chính thống
chỗ nào? Những cái cờ vàng ấy lấy điểm
nào mà gọi chính thống, không có tính chính đáng làm tốt
cho dân cho nước, nhất là c̣n làm tay sai cho thực dân nữa.
Dân Việt Nam một tṛng hai ách: Quan lại vua chúa và thực
dân hành hạ bóc lột.
17-
Khi Ngô
Đ́nh Diệm được ngoại bang Mỹ đem về
nưóc, cũng vô ư thức không nhận ra tính bất chính của
lá cờ. Rồi ngay sau khi truất phế cái tính “BẤT
CHÍNH THỐNG” của BẢO ĐẠI, bằng cuộc
TRƯNG CẦU DÂN Ư (GIẢ) để có CHÍNH ĐÁNG ,
a-
Hành động
của Ngô Đ́nh Diệm bác bỏ tính chính thống của
nhà Nguyễn (Bảo Đại) .
b-
Sau khi bác bỏ chính thống Bảo
Đại , Ngô Đ́nh Diệm cũng vô ư thức là không lập
quốc kỳ mới, loại bỏ lá cờ tay sai không
chính thống ấy đi, mà vẫn lưu giữ cái không
chính thống, không chính đáng đó. Ngô Đ́nh Diệm quá
non nớt kém cỏi về chính trị dân chủ. Gia
đ́nh trị, Coi thường đồng bào, đàn áp tôn
giáo, hành xử quan liêu như một ông quan.
18-
Nền Đệ
Nhị Cộng Ḥa do các tướng lănh quân đội, từng
đi lính cho thực dân Pháp, được Mỹ bảo
trợ đảo chính tính “chính thống” của Diệm, cũng
vô ư thức không đặt quốc kỳ mới. Sau khi chỉnh
lư, Thiệu được Mỹ cho lên nắm quyền cũng
không chính đáng, chiến đấu theo giá tiền Mỹ
Kim: “Mỹ cho 300 triệu th́ đánh theo 300 triệu” . Cho
nên khi hết tiền Mỹ viện trợ bỏ dân, bỏ
nưóc chạy.
19-
Khi ra ngoài
lưu vong, cũng không biết chọn cờ mới, tiếp
tục dùng lá cờ không chính thống, không chính đáng, hành
xử thô bạo, độc đoán chống cộng.
Cuộc đấu tranh hôm nay
là dân chủ, tính chính đáng chính thống là ở chỗ
tôn trọng dân quyền và nhân quyền, chứ không phải
cái mầu cờ.
Sông
Đốc.
12-2007
------
-
Với riêng Tôi, th́
thôi, Tôi nghĩ bàn như vậy đă đủ rơ ràng với
chứng cớ cũng rơ ràng. Nguyên Khả này vốn đă
dốt nát, thất học ít chữ, xin dành ít chữ lại
để tán gái viết thư t́nh.
Đă “nửa đời hư” chưa được
hân hạnh có vợ để được dạy bảo
và được “cùm mồm”..cứ
lộng ngôn gây oán, bị hăm dọa chôn sống nữa
cơ đấy...Khổ thế! Xin dành hơi dành chữ
để mà t́m một “minh bà, thánh nữ” lănh đạo
đời Tôi vậy. Ai thích Giẻ rách th́ kệ họ vậy.
Mà Trần Trọng Kim cũng
đă lư sự rất xác đáng là “việc
làm của một chính phủ là cốt ở cái nghĩa lư,
chứ không phải sự tin nhảm vô ư thức.” . Thật
vậy mục tiêu cứu cánh, hay gọi là cái nghĩa lư hôm
may là dân chủ, tự do, nhân phẩm, nhân quyền, dân quyền,
chứ đâu phải cứ hung hăng vô ư thức gào thét
cờ quạt tranh hơi chính thống. Biết tự trọng
tôn trọng sự thật, tôn trọng nhân phẩm của
ḿnh và bảo vệ nó đă đủ xoay thớ đồi
thế, tiêu diệt độc tài, v́ đó là chính nghĩa,
là đại nghĩa xác thật; chứ cần ǵ phải nhảm nhí hung hăng ba cái cờ
quạt để gạt nhau, lừa nhau, giết nhau..
đến tự hủy diệt cả chính nghĩa, nhân
cách, nhân phẩm của ḿnh như vậy.
Ngày
xưa Ngô Th́ Nhậm, Nguyễn Khản từ bỏ cái lẽ
chính thống nô lệ hạn hẹp để t́m cách xây dựng
bảo vệ và phát huy chính nghĩa,
lẽ chính đáng là sự hạnh phúc tồn vong của
quần chúng, của đất nước nên bỏ nhà Lê
chúa Trịnh mà theo Quang Trung. Chính Nguyễn Huệ cũng
đă dứt khoát vượt lên trên lẽ chính thống
để thực hiện cái điều nghĩa lư, lẽ
chính đáng của xă hội nhân dân. Cao Bá Quát dứt bỏ
lẽ chính thống với nhà nước, chính quyền
để xây dựng lẽ chính đáng, chính nghĩa là hạnh
phúc của nhân dân nên khởi nghĩa chống nhà nưóc triều
đ́nh thối nát nhà Nguyễn. Phan Đ́nh Phùng và những
ngựi kháng Pháp chống thực dân đă bỏ lẽ
chính thống hy sinh tất cả để đi làm tṛn cái
nghĩa lư nhân bản hạnh phúc cho nhân quần xă hội. Những ngựi yêu quí trân trọng
nhân phẩm, dân chủ hôm nay cũng vậy, họ rũ áo
từ bỏ nô lệ cho cái lẽ chính thống mê muội
bám vào chính phủ, nhà nước, để đi t́m cái nghĩa
lư chính đáng cho ḿnh và cho xă hội con ngựi. Nhân loại
đă vượt lên cái lẽ bán khai chính thống để
xây dựng lẽ chính đáng nghĩa lư nhân bản xây dựng
bảo vệ nhân phẩm, kiến tạo nền dân chủ
nhân bản đă hơn hai trăm năm nay. Con đường
nhân chủ, nhân bản không bao giờ chấm dứt, nó
liên tục, miên tục và miên viễn.
Hy sinh tận
tâm xây dựng và bảo vệ lẽ chính đáng, tính chính
nghĩa nhân bản, chứ nô lệ mù quáng cho cái “chính thống”
là tự sỉ nhục và hủy diệt.
Các
cụ bảo “làm ngựi mới
khó, chứ làm chó th́ dễ”, quả thật là chân lư: Cái
đám ngụy vẽ cờ này không muốn làm ngựi ngay
thẳng, chỉ muốn làm chó, làm tay sai ngoại bang, th́ đồng
bào Việt Nam cũng đành phải “thành toàn” cho chúng nó vậy.
Thân Kính
Nguyên Khả Phạm
Thanh Chương
25-12-2007